SÔNG ĐỒNG NAI, BÓNG TỐI SÀI GÒN

Những ngày về Biên Hòa…

SÔNG ĐỒNG NAI, BÓNG TỐI SÀI GÒN

Sau ngày thăm anh chị Bảy, chúng tôi ghé qua nhà anh chị Ba ở phố Hãng Dầu, trên ngả đường băng qua Cù Lao Phố dẫn đến Chợ Ðồn thuộc ngoại ô Biên Hòa. Chị Ba lớn hơn vợ tôi trên mười tuổi. Mỗi khi cho tôi xem hình gia đình, vợ tôi thường khen chị với sự ngưỡng mộ của một cô em gái, “Chị đẹp nhất nhà, nhất cả trường Ngô Quyền, da chị trắng mịn, mắt to sáng, mũi dọc dừa, cười có duyên,” và rồi vợ tôi nói thêm với tiếng cười khúc khích, “Mấy anh trong nhà hay chọc chị là người đẹp xóm Cây Me.” Từ ngoài hẻm ồn ào, lầy lội, tôi tìm được địa chỉ của “người đẹp Cây Me” ở tận cùng con hẻm. Ngôi nhà cổ kính, yên tịnh nằm bên cạnh bờ sông. Nơi đây rộng rãi, thoáng mát, với một vườn hoa ở phía trước và một sân gạch nhìn ra sông đằng sau nhà. Tuy cũ và đơn giản, ngôi nhà được xây với đôi mắt mỹ thuật. Ngồi trong phòng khách, tôi có thể nhìn ra một khung cửa đầy hoa bên cạnh một mái hiên. Xa xa dòng sông Ðồng Nai đang lặng lờ trôi lấp lánh trong nắng chiều, từ Tân Uyên về phía Ðông Sài Gòn, bên dưới những hàng xe gập ghềnh tiến qua Cầu Gành.

Ðây là nơi lý tưởng cho ai thích suy tư hay đọc sách trong không gian tĩnh lặng dưới một mái chùa. Có lúc ngôi nhà cũng là nơi tu hành trong giai đoạn khó khăn nhất dưới chế độ mới. Suốt mấy năm anh Ba và hai người anh bị học tập cải tạo, mẹ anh ăn chay trường và tu tập như một sư bà. Cha anh mất sớm, để lại nhiều tượng thờ trong nhà. Má cũng đi theo ba khi anh còn trong trại tù. Chị Ba thường mang con qua bên ngoại trong thời gian anh bị học tập. Ngôi nhà càng trở nên u tịch hơn sau khi bà nội qua đời, nhất là mỗi lúc chiều xuống, khiến cho đám cháu sợ nhà có ma. Ra khỏi trại tù, anh Ba mang về khí sống cho gia đình, tiếp tục cầm cự với hy vọng một đổi thay khá hơn. Trong những năm quá nghèo túng, chạy không đủ cơm, anh chị vẫn cố gắng giữ lại ngôi nhà, không bán khu vườn gia bảo cho những người vương giả với thế lực mới, muốn biến mái ấm này thành một quán ăn ven bờ sông.

Ðến khi có đổi mới, bằng cấp kiến trúc sư của anh Ba mới được đắc dụng nhờ các tay chủ thầu xây cất qua trung gian của Ty Xây Dựng nơi anh làm việc, giúp anh chị giữ được nhà và nuôi ba cháu trưởng thành. Khi chúng tôi đến, ngôi nhà tươm tất có thêm một chàng rể và một đứa cháu trai đang bập bẹ tập nói. Trong mẩu chuyện riêng tư với tôi nơi bến nước, anh Ba nói rằng anh có thể giàu có hơn rất nhiều, nếu anh bắt chước mọi người và “móc ngoặc” với kẻ có quyền thế, để làm ăn bất chính trong những dự án xây cất. Nhưng anh chỉ cặm cụi bán chất xám cho họ qua những họa đồ thiết kế. Cũng như nhiều người ở Biên Hòa, anh lo ngại chính sách đổi mới sẽ chậm lại và hậu quả của những vụ “móc ngoặc” sẽ phá tan một chút bèo bọt thịnh vượng mà mọi người đang bám vào.

Ở trước sân nhà, tôi “móc ngoặc” với một người cháu trai và được uống những ly nước dừa mát ngọt. Cháu tôi thoăn thoắt leo lên thân cây cao gấp đôi mái nhà và mang xuống một buồng dừa bốn, năm trái. Nước dừa ngọt và mát như gió sông đang thổi qua nhà. Vừa ăn những miếng cơm dừa trắng mềm, tôi vừa xem sóng nhẹ mấp mô trên mặt sông Ðồng Nai. Sau nhiều biến đổi trong mấy chục năm qua, dòng sông hiền lành vẫn có thể nuôi sống người Biên Hòa, vẫn tiếp tục vận chuyển âm thầm nhưng mạnh mẽ đến một tương lai sáng lạn hơn. Tàu bè đang tấp nập qua lại trên sông. Những con đường dọc theo bờ sông cũng nhộn nhịp với những chuyến xe hàng. Biên Hòa tùy thuộc vào sông Ðồng Nai, như những St. Louis, Memphis, và New Orleans dựa vào sông Mississippi ở Hoa Kỳ. Với đà phát triển lung tung hiện nay, liệu một mai kia con sông này có còn đủ tinh khiết, không đen ngòm như nước rạch cống ở Sài Gòn, để mang đến các thế hệ sau những trái dừa ngọt lịm?

Sông Ðồng Nai chảy sâu vào tâm thức người Biên Hòa, tuôn tràn trong lời nói thường ngày, quá bình thường và chỉ có người lạ như tôi mới để ý đến. Tôi nghe họ nói “quán hủ tiếu bên này sông,” “lò gạch bên kia sông,” “ngõ hẻm chạy xuống sông,” “công viên sát mé sông” trong những mẩu chuyện hàng ngày. Như muốn làm quen với người lạ, con sông vẫn luôn ẩn hiện ở đâu đó gần những nơi chúng tôi ghé qua. Lặng lờ bên dưới một đoạn cầu gỗ chật cứng xe, rạt rào đằng sau một xóm nhà, hoặc thấp thoáng bên kia công viên gần một khu chợ được vá víu với hàng chục tấm màn che.

Lần theo sông Ðồng Nai, chúng tôi xuống Sài Gòn vào một buổi tối. Trong chiếc Toyota mà anh Năm mượn được ở sở làm, tôi miên man nhìn cảnh vật dọc theo hai bên đường. Bóng người lốm đốm trên vỉa hè, trong các quán lụp xụp suốt từ Thủ Ðức xuống quận Tân Bình vào đến trung tâm Sài Gòn. Ở Hoa Kỳ tôi quen với cảnh yên lặng vào buổi tối. Từ lúc bầu trời bắt đầu tắt nắng, những người trong khu phố lần lượt vào nhà và đóng chặt cửa. Bên trong nhà, họ có thể ngồi xem truyền hình đến nửa đêm và để chút ánh đèn thoát ra ngoài cửa sổ. Vào mùa đông họ còn vào nhà sớm hơn, và có khi những người hàng xóm không thấy mặt nhau trong nhiều ngày.

Ở vùng ngoại ô Sài Gòn, và có lẽ ở những nơi khác tại Việt Nam cũng vậy, bên lề đường luôn có nhiều bóng người đứng hoặc ngồi yên lặng, bên cạnh những cột đèn và hàng quán lụp xụp. Họ không màng ngó nhau, không ngại bụi bặm, chỉ bâng quơ nhìn những chiếc xe phóng qua đường. Từ trong nhà chật chội, nóng hấp, họ tìm gió mát và chút giải trí dưới ánh đèn leo lét bên đường. Họ ngồi uể oải, có vẻ chán chường. Cảnh tượng mệt mỏi này trải dài trên các nẻo đường khác mà chúng tôi băng qua trong những ngày sau đó, từ Biên Hòa lên Ðà Lạt, qua Phan Thiết và trở về Ðồng Nai.

Ðến Sài Gòn, tôi đón nhận sức sống nhộn nhịp của đô thị lớn nhất Việt Nam. Sức sống mãnh liệt khiến cho tôi và người ta quên dần những bóng đen bên ngoài thành phố. Tuy chật chội và luôn luôn quyện chặt trong mùi cống, Sài Gòn vẫn bừng sống như một thanh niên đang khao khát chạy tìm tình yêu. Âm thanh của xe cộ chạy náo nhiệt suốt ngày, màu sắc tươi sáng của thanh thiếu niên trong những y phục thời trang Tây Phương, đó có lẽ là thuốc mê hiệu nghiệm nhất, giúp cho người ta không thấy những đội quân ăn mày chờ chực trước mặt thực khách. Ban đầu tôi còn bận tâm đến kẻ ăn xin. Thế nhưng sau vài ngày ở Biên Hòa và nhất là tại Sài Gòn, tôi cũng bị “gây mê” và không còn nhớ bao nhiêu người ăn mày bị tôi từ chối. Mỗi khi bước ra đường, đầu tôi lắc thường xuyên đến chóng mặt và cứng bắp thịt cổ. Người ở đây không lắc đầu. Họ thản nhiên làm ngơ như không nghe lời cầu xin. Tôi chưa làm ngơ được như họ.

Như tránh người ăn mày, tôi cũng dần dần làm ngơ tin tức trên đài truyền hình. Trong vài ngày đầu tiên ở Việt Nam, tôi ngạc nhiên khi thấy mọi người vội tắt máy truyền hình đúng giờ có tin tức. Như nhiều đàn ông bình thường khác, mà nhất là người đứng tuổi, tôi có thói quen xem tin tức vào mỗi buổi chiều, để biết tình hình địa phương và trên thế giới đang như thế nào. Thành thử tôi rất ngạc nhiên khi thấy nhiều người ở đây thản nhiên rời máy truyền hình, để làm những công việc khác trong giờ tin tức buổi chiều. Họ có thể ăn uống, vào nhà vệ sinh, ra ngoài hiên hút thuốc lá, hoặc ngồi chơi với chó. Ðến khi được xem chương trình tin tức, tôi mới hiểu tại sao người ta không muốn xem truyền hình vào giờ đáng lý rất bổ ích này. Tin tức ở Việt Nam không có ý kiến trái ngược nhau về một vấn đề, không có phóng viên chất vấn người lãnh đạo về chính sách quốc gia, không có lời than phiền của người dân về một biện pháp mới của chính quyền, cũng không có án mạng, tai nạn giật gân, hoặc dăm ba chuyện vui vui vớ vẩn, có lòng nhân đạo giữa người với người.

Tin tức tôi được xem vào mỗi buổi chiều trên đài truyền hình thường là những tin rất xa vời đối với đời sống hàng ngày của người dân. Ở nơi đây có tiếp tân ca ngợi sự thành công của nhà nước, ở chỗ kia có hội nghị mà ai cũng nhắc đến công đức vĩ đại của Bác và Ðảng, ở nơi nọ có thành quả đắp đê, xây đường mà người được phỏng vấn không quên đề cao chính sách sáng suốt của nhà nước, và ngay trong một cuộc thi trắc nghiệm khoa học giữa các trường, học sinh thắng giải cũng ngỏ lời tạ ơn “công đức” của Bác và Ðảng giúp cho em được thông minh hơn. Nếu có xuất hiện trên đài truyền hình, những người cầm quyền thường nhắc đến tinh thần “phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân” của họ. Tôi không nghĩ những người này biết rằng nhân dân của họ cũng gồm cả mấy kẻ ăn mày, những bóng đen đứng dật dờ như hồn ma, bên cạnh các em bé ngồi bán từng chai xăng bên lề đường. Nếu kẻ ăn mày được đài truyền hình phỏng vấn, chắc họ cũng chỉ biết nói “Nhờ ơn Bác và Ðảng,” một câu mà ai cũng phải thuộc lòng để phòng thân.

Qua những tin tức trên đài truyền hình, tôi nhận ra một xã hội có hai mặt. Một mặt người ta tươi cười đề cao những thành tích không có thật, để che đậy mặt kia gồm sự nghèo kém và thiếu niềm tin. Có phải sau hơn hai thập niên sống dưới một chế độ thiếu thành thật, riết rồi ai cũng buông tay và chấp nhận cuộc sống hai mặt này? Thế hệ sinh sau năm 1975 được giáo huấn dưới chính sách trả lời rập khuôn, và họ quen sống hai mặt mà không hề thắc mắc hoặc bận tâm rằng đâu là mặt trái và đâu là mặt thật. Ðối với thế hệ cùng lứa với chúng tôi, họ có thể bị dằn vặt rất nhiều. Một người bạn dạy học nói rằng anh vẫn thường giảng dạy những bài học bôi xấu chế độ miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Cha anh đã hy sinh mạng sống cho miền Nam và giờ đây anh phải dạy những đứa trẻ biết tội ác của cha mình. Tuy biết những bài học không đúng sự thật, anh vẫn phải làm ngơ để sống sót trong một xã hội mà người ta có thể hơn nhau hoặc chà đạp lên nhau, nếu họ biết nói đúng lúc một lời “Nhờ ơn Bác và Ðảng.”

Một cô giáo, bạn học cũ của vợ tôi, cho biết cô đang là hiệu phó một trường cơ sở cấp Hai hay cấp Ba gì đó. Cô nói thêm với một chút hãnh diện và hài lòng rằng cô từng được nhà nước đài thọ mọi chi phí tàu xe ăn ở, để đại diện ngành giáo dục tỉnh nhà ra tận Hà Nội mấy ngày, nhận bằng cử nhân danh dự và tham quan Lăng Bác. Nghe “hiệu phó,” tôi tưởng cô ta cũng “ngon lành” lắm, vì tôi từng nghe về một người quen hiện nay “rất khá” nhờ làm hiệu trưởng. Vài ngày sau, cũng cô giáo đó, nhân lúc mang quà nhờ vợ chồng tôi cầm về Mỹ cho người thân, cô dần dần tâm sự những điều khác hẳn, thật hơn, về đời sống chật vật của cô. Là hiệu phó, cô không thể kiếm chác như hiệu trưởng, vì không có quyền sinh sát trong tay để ăn hối lộ từ phụ huynh học sinh hay từ giáo viên. Hiệu phó có nghĩa là cô không có học sinh riêng như các giáo viên “đứng lớp,” để có thể ép buộc học trò ghi danh vào lớp dạy thêm do cô mở ra. Học sinh không ghi danh học thêm thường bị “đì,” không được lên lớp và có thể suốt đời bán vé số. Gia đình cô hiệu phó này sống sót nhờ sự tiếp tế của một người chị ruột sống ở Bắc California.

Như mọi người ở đây, sau hai ngày xem truyền hình, đến ngày thứ ba tôi cũng ra ngoài sân vào giờ chiếu tin tức. So với truyền hình, báo chí tương đối đỡ hơn rất nhiều, ít nhất là về mặt loan tin tội ác trong xã hội. Báo Tuổi Trẻ, Công An đang được nhiều người đọc cũng vì vậy. Sau giờ tin tức, những người “thờ ơ” trở lại trước máy truyền hình, chờ xem những chương trình ca nhạc kịch, cải lương, hoặc thể thao, để được giải trí và tạm quên cuộc sống chật vật ở chung quanh.

Trong thời gian tôi về Biên Hòa, ngày nào mấy người già cả và những đứa bé trong nhà cũng đều chăm chú xem phim “Cuộc Phiêu Lưu Của Sinbad” được chiếu nhiều kỳ trên đài truyền hình. Như hầu hết những phim ngoại quốc tại Việt Nam hiện nay, toàn thể âm thanh của phim Sinbad bị lấn áp bởi lời thuyết minh. Người xem chỉ thấy hình và phải nghe giọng thuyết minh của một người duy nhất trong suốt bộ phim. Trong phim Sinbad, một phụ nữ nói hết lời của những nhân vật trong phim, nam cũng như nữ, ác quỷ cũng như người hùng. Tuy phim không còn hấp dẫn lắm, vậy mà có lúc ngồi xem phim với mấy đứa bé trong nhà, tôi cũng từng hồi hộp lắng nghe một gã quái vật lông lá đầy mình, quát tháo bằng giọng nữ miền Nam lên xuống rất nhịp nhàng.